Nucleoside


Nguồn : http://tndcong.wordpress.com/2011/07/29/nucleosides/

Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy nhiều em học sinh, thậm chí là một số ít giáo viên mới ra trường có sự nhầm lẫn giữa nucleosides và nucleotides. Nay tôi post bài này để nói lại cho rõ hơn, cũng là thống nhất nội dung cho các em học sinh tiện tham khảo.

I. Nucleotide:
Sách giáo khoa phiên âm thành nuclêôtit. Đó là một đơn phân trong phân tử acid nucleic (có 2 loại là DNA và RNA). Tuỳ vào thành phần đường mà người ta chia thành 2 loại là ribonucleotide (đơn phân của RNA) và deoxyribonucleotide (đơn phân của DNA). Trong cách gọi ngắn gọn, hoặc trong các bài toán để cho thuận tiện, người ta dùng nucleotide cho cả hai loại này.
Trước đây, trong các sách giáo khoa cũ, tên gọi nucleotide (nuclêôtit) được thống nhất dùng để chỉ nucleotide trong phân tử DNA (deoxyribonucleotide), còn ribonucleotide dùng để chỉ nucleotide trong RNA. Sau khi thay sách, các sách giáo khoa hiện nay thống nhất cách gọi tên chung. Điều này đã giúp rất nhiều cho các em học sinh trong việc tiếp cận với cách gọi tên của khoa học thế giới.
Về thành phần cấu tạo, như đã được trình bày rất kĩ trong sách giáo khoa, nucleotide (DNA và RNA) gồm 3 thành phần:
(1)++ 1 gốc phosphate
(2)++ 1 đường pentose (5C) (ribose hoặc deoxyribose)
(3)++ 1 trong 4 loại nitrogenous base (bazơ nitơ): A (Adenine), T (Thymine) hoặc U (Uracil), G (Guanine), X (Cytosine).
Phải đủ cả 3 thành phần trên thì mới được gọi là nucleotide. Vậy chuyện gì xảy ra nếukhuyết 1 trong 3 thành phần trên?

II. Nucleoside:
Trong các phản ứng sinh hoá của cơ thể, các phân tử nucleotide tham gia rất “nhiệt tình” và đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chúng tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, từ dạng liên kết với 1, 2 hay 3 nhóm phosphate đến dạng liên kết vòng nội phân tử (cyclic). Các trạng thái đó luôn cố định sự có mặt của 1 phân tử đường pentose và 1 nitrogenous base (bazơ nitơ). Và sự “chung thuỷ” của 2 “nhân vật” quan trọng này được “tưởng thưởng” bằng một tên gọi cho nhóm chỉ gồm 2 “nhân vật” này: nucleoside (phiên âm: nuclêôzit).
Nói một cách gọn gàng, nucleoside bao gồm 1 phân tử đường pentose liên kết với 1 gốc nitrogenous base (bazơ nitơ).
Tên gọi của các nucleoside cũng là một vấn đề làm “đau đầu” nhiều giáo viên và nhiều em học sinh muốn nâng cao kiến thức. Xin liệt kê lại đây để tiện cho việc tra cứu:
1. Tên gọi “chính thống” các nucleoside áp dụng cho các ribonucleoside. Đối với cácdeoxyribonucleoside sẽ thêm deoxy (d cho dạng viết tắt) vào trước tên ribonucleoside tương ứng.
2.

Ribose + Adenine = Adenosine
Ribose + Uracil = Uridine
Ribose + Guanine= Guanosine
Ribose + Cytosine = Cytidine.

Tên gọi của các deoxyribonucleoside tương ứng là deoxyAdenosine, Thymidine (vì không có dạng T liên kết với đường ribose, nên không cần phân biệt), deoxyGuanosine, deoxyCytidine.
Dạng viết tắt: dA, T, dG, dC (trong bài tập ở Việt Nam, ta dùng dX !!!)

Chúng ta có mối liên hệ như sau:

Nucleobase (nitrogenous base)
Nucleobase + pentose = Nucleoside
Nucleoside + phosphates (mono, di, tri, …) = Nucleotide

Một nucleoside quan trọng nhất trong cơ thể các loài sinh vật là ATP (Adenosine TriPhosphates).

Chúc các em học sinh học tốt. Chúc quí bạn đọc luôn “miễn độc” với các “sự” rườm rà thuật ngữ này. Hiểu nó, sẽ rất thú vị, và dễ dàng nắm vững tri thức.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s