sss


Năm giai đoạn khi ngồi thiền 

(Kỳ 06) 

(VienDongDaily.Com – 23/06/2011)

Bài giảng của thầy Hằng Trường trên radio Khai Tâm, do Xuân Dung ghi lại

 

Em này nghe nói vậy liền bằng lòng, vì chuyện này cũng dễ. Nhưng ông sư phụ lại nói:
“Khi con viết, tay cầm bút không được tỳ lên bàn, tức là phải “huyền không đả tự”, viết mà tay ở trên không trung”.
Em này nghe vậy lấy làm thích thú. Mỗi ngày em ngồi xếp bằng lấy bút ra, viết câu: Quán tự tại bồ tát hành thâm bát nhã Ba La Mật. Mỗi ngày em viết được một hai chữ, thấy chữ nào không đẹp, em bỏ đi, viết lại, rồi đưa lên trình thầy. Ông sư phụ xem rồi lắc đầu cho biết chữ viết chưa đẹp, cần viết lại cho thẳng và sắc bén. Ngày nào em cũng đưa lên một hai chữ và ngày nào ông sư phụ cũng lắc đầu chê chưa đẹp và em viết lại nữa. Dần dần em khám phá ra rằng chữ viết nhòe nhạt, không thẳng hàng, sắc bén vì tay không được tỳ vào bàn. Cứ như vậy trong vài tháng mà không có tiến bộ gì. Một ngày nọ, ông sư phụ mới bảo em hãy ngồi đây viết cho ông xem, ông sẽ chỉ chỗ sai của em. Em lấy giấy bút ra ngồi xuống bắt đầu viết. Ông sư phụ nói:
“Đây là điều con cần chú ý. Khi viết, con chỉ muốn viết cho xong chữ đó. Nhưng ta muốn rằng khi con viết nét nào thì tâm con trụ vào nét đó.”
Em bé nghe xong thoát nhiên đại ngộ:
“Ồ, như vậy sao.”
Trong vòng hai tuần lễ em không viết 5, 6, 7, 10 hay 15 chữ mà em chỉ viết một hai chữ thôi. Nhưng khi viết chữ nào thì tâm em trụ vào từng nét của chữ ấy. Em đi từng nét, viết nét nào trụ vào nét ấy, không để ý tới việc làm sao chấm dứt nét này. Từ từ an trụ vào từng nét như vậy. Nhờ vậy em mới khám phá ra rằng việc mà em chú ý tới không phải là cùi chỏ tay mà là cái đầu của ngọn bút. Em không ngờ đã bỏ hết sức mạnh tâm linh của em vào đầu ngọn bút. Bây giờ em mới khám phá ra rằng, mỗi nét mình có thể ngừng trụ lâu hơn một chút. Cuối cùng, khoảng ba tháng sau, em không viết xong chữ nào cả. Nhưng khi em cầm cây bút lên viết chữ, từng nét, từng gạch, người nào trông thấy cũng cảm nhận được cả một sức mạnh tâm linh ở trong nét chữ ấy. Ông thầy lúc đó mới gọi em lên hỏi:
“Cả mấy tháng nay thầy không thấy con đưa lên một chữ nào cả.”
Em bèn trả lời:
“Thưa thầy, con hiểu thầy muốn rèn luyện định lực của con. Con không cần phải viết nguyên bài, mà tập làm sao dừng trụ trong nét bút của con.”
Em liền ngồi xuống lấy giấy bút ra viết, từng nét, từng chữ, Lúc này tâm em không còn náo loạn, chạy lung tung. Khi viết một nét, em không nghĩ nét đó sẽ ngừng như thế nào. Em cũng không để ý đến chuyện viết xong rồi thử coi lại xem có đẹp hay không. Em không ngừng trụ ở chỗ nét chữ này dài quá hay ngắn quá mà em chỉ an trụ tâm mình trong nét chữ thôi.
Câu chuyện hơi dài dòng, nhưng rất có ý nghĩa. Đôi khi chúng ta nhìn và muốn có cái đẹp bên ngoài, nhưng định lực lại là một phương pháp hoàn toàn ở bên trong. Đức Phật có nói trong kinh Di Giáo, kinh để lại cho đời sau: “Chế tâm nhất xứ, ngô sự bất biện.”Khi mình có thể giữ tâm ở một chỗ thì không có chuyện gì có thể không làm xong trong vũ trụ này. Em bé này học viết, từ viết cho xong, viết cho đẹp, tới chỗ viết cho rồng bay phượng múa, cho lưu loát: em chỉ dừng trụ tâm trong thời điểm ngay bây giờ, mà không cần nghĩ tới chữ viết sẽ xong, xấu hay đẹp. Kết quả là mỗi chữ em viết ra đẹp vô cùng, có sức mạnh vô cùng.
Đây là câu chuyện một vị thiền sư huấn luyện một em bé 13 tuổi làm sao tập trung. Trong câu chuyện này, đối tượng tập trung là chữ viết, cái kính lúp hay phương tiện là môn viết. Đối tượng này nằm ngay chỗ đầu ngọn bút khiến cho mình nhớ rằng, trong cuộc sống, sự dừng trụ của tâm mình quan trọng vô cùng. Cả nghệ thuật ở đây là sự phát huy những điểm hay của nội tại, tâm linh. Do đó, Chỉ là phương pháp đầu tiên khiến mình ngưng trụ lại.
Bây giờ có một câu chuyện khác. Các bác có biết rằng cái tháp nước đầy và nhiều nước vô cùng. Bác hãy tưởng tượng nếu đục một lỗ nhỏ ngay cái tháp thì nước sẽ chảy mạnh cỡ nào. Cũng vậy khi tâm thức của mình dồn hết năng lực của mình vào một điểm thôi, thì tâm thức lúc đó sẽ có một sức mạnh thác đổ. Sức mạnh đó dùng để chuyển hóa nghiệp, khiến nước trong tháp đựng nước đó chảy ra, khiến tâm thức lưu loát của Phật tuôn ra, lúc đó nó sẽ cuốn đi những nghiệp chướng, quét sạch những bụi bặm của trần lao.
Do đó phương pháp tập trung năng lực của tâm linh để giải nghiệp là một trong những phương pháp cổ truyền nhất trong đạo Phật. Tâm mình càng tán loạn bao nhiêu thì mình càng chiêu cảm nghiệp chướng nhiều bấy nhiêu. Nếu tâm mình càng lúc càng thanh tịnh, có nghĩa là càng lúc càng kiên trú, thì nghiệp chướng mình chiêu cảm càng lúc càng bớt đi; những phước đức, linh tánh của mình sẽ càng ngày càng mở ra.
Thầy xin khuyên các bác, mỗi ngày mình nên im lặng, nên có một chỗ để hướng tâm vào, để chiêu cảm những điều tốt. Mình không nên để cho tâm mình tán loạn vào những hoạt động của vùng tâm thức luân xa số 1, 2 và số 3. Tức là trong vùng tâm thức của ba chữ: dục vọng, tham vọng và chấp vọng.
– Dục vọng là những thứ khiến mình không ngừng muốn tốt, muốn thêm.
– Tham vọng là những mong cầu của bản ngã, cái đạt tới.
– Chấp vọng là những kiến giải sai lầm, chồng chất lên nhau.
Khi mình không để cho chúng quay mình, điều khiển hay nắm giữ mình, mình sẽ ở trong một cảnh giới tự tại, giải thoát hơn.

b. Quán
Thường khi nói tới quán, người ta nghĩ tới việc mình ngồi tưởng tượng ra một chuyện gì đó, hay nhìn vào một chuyện gì đó, v.v.. Chữ quán này đã tạo ra một sự hiểu lầm lớn. Quán nghĩa là sự cảm nhận chủ thể, là cái bản ngã này. Khi ngồi thiền, lúc nào mình cũng có một chủ thể, đối tượng. Chủ thể là mình hay cái bản ngã bên trong. Đối tượng là một điểm hoặc bên ngoài, hoặc trong tâm, trong thân. Thí dụ mình niệm Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô A Di Đà Phật… thì tiếng niệm trong đầu mình là đối tượng, sự cảm nhận, tri nhận đối tượng đó gọi là bản thể hay chủ thể. Chủ thể và đối tượng là một cặp không thể tách rời ra được. Khi tu thiền, nếu mình chỉ có một đối tượng và chuyên chú vào đối tượng đó, thì sự chuyên chú sẽ từ từ càng ngày càng cao, càng sâu. Đó là phương pháp Chỉ.

Năm giai đoạn khi ngồi thiền 

(Kỳ 07) 

(VienDongDaily.Com – 30/06/2011)

Bài giảng của thầy Hằng Trường trên radio Khai Tâm, do Xuân Dung ghi lại

 

Bây giờ, nếu mình niệm Nam Mô A Di Đà Phật một cách tập trung chuyên chú thì sẽ có một trạng thái đặc biệt, không phải là chú ý, mà là trạng thái cảnh thức. Trạng thái tỉnh giác hay cảnh thức này là một trạng thái rất đặc biệt mà ngày xưa các vị thiền sư, cổ nhân đã diễn tả qua thí dụ mèo rình bắt chuột. Một con mèo đang rình con chuột, chuột chạy vô hang của nó. Con mèo ở ngoài nhìn chăm chú vào hang chuột, mắt lim dim, bốn chân ở trong trạng thái sẵn sàng bung ra, phóng tới vồ lấy con chuột. Con mèo tập trung hết thần trí của nó vào hang chuột đó. Khi chuyên chú như vậy nó có một trạng thái tỉnh thức. Trạng thái này quan trọng tới độ nếu các bác đi ngang qua hay tới gần chỗ đó, con mèo sẽ vểnh tai lắng nghe nhưng không chú ý tới bác; nó vẫn nhận biết những chuyện xung quanh nhưng không chú ý tới, vì nó đang dồn hết tâm thức vào hang chuột.
Nói một cách khác, có một sự cảm nhận trong tâm mình, cũng như con mèo có một sự cảm nhận bên trong, nội tại. Cảnh giới nội tại này gọi là chủ thể. Thí dụ bác đang trì chú Đại Bi, lúc đầu bác trì tụng vậy thôi, chưa tập trung. Nhưng khi bác tập trung được rồi, cứ để cho dòng chú tuôn chảy trong đầu một cách tự nhiên thì mình phát khởi lên một sự tri nhận, tri nhận về một khoảng không gian trong tâm mình. Mình cảm thấy là lạ, cảm thấy câu chú như chạy trong khoảng không gian mà mình có thể sờ mó, nhận diện ra được. Không gian đó được gọi là từ trường, chủ thể của mình, hay bản ngã của mình.
Thành ra Quán nghĩa là phát khởi sự tri nhận trở lại bản thể hay là tri nhận lại chủ thể của mình. Chỉ là một phương pháp dễ, chỉ cần tập trung vào một chỗ, vào một đối tượng. Nhưng ít người biết đến Quán, là mình không phải tập trung mà phải nhận tri chủ thể của mình. Vì vậy nó khó hơn và vì vậy nhiều người đã hiểu lầm, cứ nghĩ rằng quán là hình dung ra, tưởng tượng ra, mà không biết rằng Quán là khả năng nhận tri lại chủ thể.
Thầy xin kể các bác nghe một câu chuyện. Anh Ba nọ ra chợ thấy có bán một cái ly trà đời nhà Minh rất đẹp. Anh muốn mua nhưng không có tiền, nên mới nghĩ: “Thôi mình cuỗm cái ly đó.” Anh nhìn xung quanh, không thấy có ai để ý cả. Anh chuyên chú vào cái ly đó, đi vòng vòng một hồi và nhận diện ra rằng không ai chú ý đến anh. Anh từ từ tới gần cái ly và sự chuyên chú của anh vào cái ly lớn vô cùng. Cái ly trà đời nhà Minh này nếu đem bán cũng phải tới vài trăm ngàn, vì là từ đời nhà Minh, xưa hơn đời nhà Tống hay nhà Đường. Khi chuyên chú như vậy, anh bỗng thấy một chuyện lạ là trong óc anh dường như mọc ra thêm 18 con mắt, vì anh cảm nhận được những người xung quanh anh. Anh có cảm giác là ai nhìn anh, anh biết ngay. Anh từ từ giơ bàn tay đẹp của anh ra cầm lấy cái ly, từ từ bỏ vào túi và từ từ quay lưng đi. Chuyện gì đã xẩy ra trong đầu óc anh? Mức độ nhận tri của anh lên cao vô cùng, bất kỳ người nào nhìn hay không nhìn anh, anh đều cảm nhận được. Tâm anh trở nên rất rõ ràng, thức tỉnh một cách kinh hồn và anh nghe cả nhịp tim đang đập trong anh, anh nghe hết mọi chuyện trong lúc từ từ đi ra cửa. 18 con mắt của anh nhìn hết 18 phương, nhận biết tất cả, nhưng trong đầu óc anh không xẩy ra một tư tưởng nào cả. Anh nhận diện tất cả, kể cả cảm nhận của anh, sự sợ hãi. Anh bước ra, lập tức nhẩy ngay lên một chiếc taxi, phóng chạy, thoát nạn. Sau này thế nào, thầy không biết.
Nhưng lúc anh đang ở trong trạng thái đó, có phải anh đang tu chỉ quán phải không? Không, tâm thức thì là cùng một loại, nhưng động cơ hơi sai lầm. Tức là tâm thức này cũng chuyên chú và cảm nhận được; nhưng anh không cảm nhận được bản ngã mà chỉ cảm nhận được không gian trong tâm, trong đầu của anh và xung quanh anh. Sự cảm nhận này không phải là sự chuyên chú mà là một sự tỉnh thức. Cảnh giác hay tỉnh thức rất cao đó thường đi với sự chuyên chú. Thường thường mình cho rằng vọng tưởng là vọng tưởng mà không biết rằng vọng tưởng có nhiều tầng, nhiều loại. Sự cảnh thức này không phải là một loại vọng tưởng vì không có tư tưởng xảy ra. Đó là những năng khiếu quan trọng trong việc tu thiền.
Bây giờ thầy kể một câu chuyện khác. Có một em vô tình làm bể một cái ly, không phải là cái ly đời nhà Minh hay nhà Đường, mà là một cái ly người mẹ đã mua ở Disneyland. Em đã đánh bể cái ly kỷ niệm đó. Sau khi làm bể, em đã hốt những mảnh vỡ bỏ vào thùng rác và không dám nói với ai, vì em biết trưa nay mẹ em về ăn trưa sẽ lấy cái ly đó ra uống nước. Trưa đến, em cũng ngồi ăn cùng gia đình, nhưng trong tâm sinh khởi lên một sự lo lắng. Em ngồi đó, không bần thần nhưng lo lắng và em chờ người mẹ nhờ lấy cái ly hoặc xem bà mẹ có lấy cái ly đó ra không? Trong sự sợ hãi chờ đợi, em cũng phát sinh ra sự nhận tri: tim đập mạnh, sự lo lắng lo âu trong tâm. Đây không phải là sự nhận tri trong thiền định. Nhận tri trong thiền định không có sự sợ hãi. Sự nhận tri bình thường của mình đầy những cảm xúc, sợ hãi, ghen tuông, đố kỵ. Thí dụ một cô nọ biết có người đàn bà hay đến nói chuyện với chồng mình. Tự nhiên cô cũng mọc ra 18 con mắt trong đầu. Người đàn bà kia mà tới thì cô này lập tức sẽ cảm thấy khó chịu. Dù đứng bên này làm việc, nhưng vì có thêm 18 con mắt, nên khi người đàn bà kia tới gần chồng mình một chút xíu thôi là cô biết ngay. Một cảm nhận độc đáo vô cùng. Nếu người đàn bà kia nói một câu gì xa xôi, cô cũng cảm nhận ra ngay có chuyện gì đó xảy ra. Đây có phải là Quán hay thiền định không? Không, nhưng đó vẫn là một sự nhận tri không có vọng tưởng.
Sự nhận tri cho thấy mình có nhiều tâm thái vô cùng. Tâm thái nhận tri là một trong những tâm thái quan trọng nhứt. Khi sự nhận tri cho thấy hình tướng của bản ngã thì gọi là Quán. Nếu sự nhận tri này chỉ là sự nhận tri không gian bên ngoài, người đố kỵ với mình, người muốn cua ông chồng mình, con mèo đang nằm đó chờ đợi, thì không phải là Quán. Sự nhận tri của Quán là nhận tri được chủ thể của bản ngã mình.
Một thí dụ khác: Khi mình sắp làm một lỗi lầm gì, tim mình lắng đọng, đập mạnh vô cùng và mình cảm nhận ngược lại cái tôi, cái bản ngã sắp làm sai. Tim mình đập mạnh, trong người khó chịu, thân thể run rẩy vì thân mình không đồng ý. Trong sự không đồng ý đó, tâm nhận tri ra được cái bản ngã, chủ thể. Sự nhận tri của bản ngã này tới một cách tự nhiên. Nhưng nếu rèn luyện nó tức là các bác tu Quán.
Đạo Phật có một pháp thiền rất hay, gọi là Tham Thoại Đầu. Thoại là lời nói, thoại đầu là lời nói khi chưa tuôn ra. Bởi vậy, ông thiền sư lắng nghe lời nói khi chưa phát ra và ông cảm nhận tất cả cảm xúc của bản ngã ở đó. Thí dụ một câu tham thoại đầu như “Ai là người niệm Phật”? – Chủ thể. Mình hãy dồn hết tâm thức của chủ thể vào bản ngã. Dồn tâm thức như vậy không phải là sự chú ý mà làm sao mình cảm nhận được chủ thể của bản ngã trước khi lời nói phát sinh. Đây là một điều khó hiểu, nhưng vì mình đang nói về thiền, nên nói những điều hơi khó hiểu một chút.
Tại sao khi tu thiền, người ta biết “Chỉ” mà không biết tới “Quán”? Quán là nhận diện ra bản ngã. Bây giờ mình sẽ đi qua những thí dụ từ nhỏ nhất, dễ nhất tới những thí dụ phức tạp, khó hiểu. Dễ nhứt là sự cảm nhận của con mèo, nó cảm nhận được không gian chung quanh hang chuột. Rồi khi mình đi ăn cắp đồ vật, cảm nhận được sự sợ hãi trong tâm, là một sự thức tỉnh hay sự cảnh giác. Mình nói tới sự cảm nhận được bản ngã của mình bên trong. Sự cảm nhận chủ thể bản ngã này là một khả năng rất cao của phương pháp Quán.
Thường thường kết quả tu tập Quán là tâm thái “self awareness”, tự tri hay tự giác. Tự tri là biết về cái ngã; tự giác là nhận diện ra cái ngã. Phương pháp Quán khiến mình giác ngộ được. Phương pháp Chỉ khiến bao nhiêu vọng tưởng của mình bị cắt đứt, gián đoạn. Thành ra cả hai phương pháp Chỉ và Quán này cần phải được thực hành nên được gọi là “Chỉ Quán song tu”. Những phương pháp song tu này mình gọi là những phương pháp từ từ vì nó có thể phát triển nhân cách để hỗ trợ cho việc tu thiền. Nói một cách khác, nếu mình tu luyện thiền mà nhân cách của mình đầy những chuyện của bản ngã, đầy những chuyện của người đời, trần tục phàm phu, đầy những tạp tính xấu, thì khi tu thiền, mình khó có một sự hỗ trợ, một sự tương ưng. Cho nên bất cứ sự tu thiền nào cũng qua năm giai đoạn chính quan trọng. Đây là năm giai đoạn phát triển của tâm thức:
Giai đoạn đầu tiên là sự hỗn loạn (confused state), tâm thức cực kỳ hỗn loạn với tâm thái ham muốn, giận dữ. Từ từ mình tu thiền tới giai đoạn thứ hai, gọi là giai đoạn bình quân (balanced). Sau giai đoạn này thì tới giai đoạn phát triển sự quân bình của mình với người khác, tức là giai đoạn Hài Hòa (Harmony). Sự tu thiền cũng dẫn mình tới giai đoạn này chớ không phải chỉ thấy trong cuộc sống mà thôi. Giai đoạn bốn là Hợp Nhất hay giai đoạn nhất nguyên. Những đối tượng đúng sai, tốt xấu, tất cả đều hòa lại trong một tâm thức duy nhất được gọi là tâm thức nhất nguyên (Unity). Sau đó mình vẫn tiếp tục đi cho tới khi nào không thấy Bồ Đề Niết Bàn và sanh tử phiền não là hai nữa. Bồ Đề tức là phiền não, phiền não tức là bồ đề; Niết Bàn là sanh tử, sanh tử là Niết Bàn. Khi thấy được như vậy thì gọi là Bất Nhị

Năm giai đoạn khi ngồi thiền

(Kỳ 08) 

(VienDongDaily.Com – 07/07/2011)

Bài giảng của thầy Hằng Trường trên radio Khai Tâm, do Xuân Dung ghi lại


Năm giai đoạn của tâm thức mà mình sẽ trải qua trong lúc tu thiền cũng như trong lúc sống là năm giai đoạn có tên như sau:
(1) Hỗn loạn hay Confused state
(2) Bình thần hay Balanced
(3) Hài hòa hay Harmony
(4) Hợp nhất, nhất nguyên hay Unity
(5) Bất nhị hay None-duality

Năm giai đoạn này chỉ có thể đạt được khi mình luyện tâm. Nếu mình biết chỗ bắt đầu luyện tâm thì mình sẽ rất thành công. Bắt đầu luyện tâm có phải là bắt đầu luyện Chỉ và Quán không? Thưa không. Bắt đầu luyện tâm là mình làm sao cho tâm nhẹ, buông đi những gánh nặng. Sự buông bỏ gánh nặng của nội tâm là con đường điều tâm số một. Sau khi buông bỏ những chuyện chấp trước bên ngoài để tâm mình được nhẹ nhàng, mình mới đi tới giai đoạn tu luyện Chỉ và Quán. Sau khi đã tu luyện được Chỉ và Quán, mình sẽ tới một giai đoạn quan trọng hơn nữa của tâm thức, được gọi là đạt tới sự hài hòa mà thống nhất. Cuối cùng thì tới giai đoạn bất nhị.
Thưa các bác, tiến trình điều tâm hay tiến trình nuôi dưỡng để phát triển cái tâm này là một nghệ thuật rất cao. Tu thiền cần có những phương pháp quan trọng và chính xác. Mình chớ nên nghĩ rằng thiền là một việc ghê gớm, có thể dẫn đến tẩu hỏa nhập ma; trái lại thiền là một phương pháp rất có lớp lang, thứ tự và mình cần có sự hướng dẫn. Đồng thời cũng nên bỏ ý nghĩ và sự ham muốn là mình sẽ giác ngộ và hơn người khác, phải là người đi cứu người khác. Những động cơ này khiến con đường thiền của mình không còn chính xác nữa, vì đã đem tâm thức phàm phu, thế tục vào con đường tâm linh, và hiểu lầm rằng tâm linh cũng là con đường thế tục, cũng phải tranh giành, bon chen, phải đứng hạng nhứt, phải giỏi, phải ngồi cho cao. Không phải vậy. Thiền là một phương cách hoàn toàn nhẹ nhàng vì là sự khai mở của tâm, một sự phát huy ánh sáng của từ tâm chớ không phải là một phương pháp khiến mình tranh được chức vụ gì và giác ngộ tới cỡ nào. Đó là về khía cạnh luyện tâm.
Tóm lại những giai đoạn ngồi thiền trên đây – không phải giai đoạn sống thiền, mà chỉ là giai đoạn ngồi thiền thôi – cũng có chi tiết, kỹ thuật lắm. Hy vọng mình sẽ bắt đầu phát tâm, học thiền, để phát huy mức độ chuyên chú cũng như là phát huy mức độ khai mở tự giác (self-awareness) nội tâm.

5. Cảm kích – Appreciation
Chữ Appreciation người Mỹ hay người ngoại quốc dùng thường xuyên lắm, cũng như chữ Thank you, Merci, Merci beaucoup. Gần đây cho nhiều người cho biết rằng:
“Thưa thầy, có những chỗ mình làm việc với họ thật lâu mà họ không thèm nói một tiếng OK hay Thank you. Nhưng sang đất Mỹ thì thấy rằng khi mình làm việc gì cho ai, họ đều nói Thank You cả.”
Có nhiều nền văn hóa, người ta không nói ra tiếng cám ơn bằng miệng mà chỉ nói bằng tấm lòng, sự cảm kích biểu lộ bằng tấm lòng. Cũng có nền văn hóa cho rằng không cần phải nói ra làm chi, nó đã sẵn như vậy rồi. Thí dụ người con cầm bình trà rót nước cho cha mẹ. Cha mẹ sẽ không nói tiếng cám ơn con vì nghĩ rằng đây là chuyện bình thường. Còn người Mỹ hay người ngoại quốc, các bác thấy, con cái pha trà cho cha mẹ, cha mẹ cũng nói “cám ơn”, nhiều khi họ còn nói “please” (xin làm ơn). Nhưng trong văn hóa Việt Nam mình không nói “cám ơn”, cũng ít khi nói “Xin làm ơn”. Ta không thể nói là văn hóa này sai hay đúng mà chỉ là tập quán của mỗi nền văn hóa mà thôi.
Sự cảm kích ở đây ra ngoài vấn đề xã giao mà chú ý đến cái tâm. Sự cảm kích này tiềm tàng trong mỗi nền văn hóa, dù sự thể hiện của mỗi nền văn hóa có khác nhau: có văn hóa thể hiện bằng lời nói rõ ràng, có văn hóa không biểu hiện bằng lời nói mà chỉ để trong lòng mà thôi. Còn những văn hóa khác thì biểu hiện bằng hành động, cử chỉ, qua cái gật đầu, v.v..
Văn hóa cảm kích trong Phật giáo như thế nào? Trong Phật giáo, văn hóa cảm kích là một văn hóa rất quý báu. Đức Phật dạy rằng: “Nếu cảm kích ân đức của người tốt với mình, mình sẽ học được cái ân đức đó và trở thành người đó”. Đức Phật thường dùng chữ “làm công đức”: làm công là làm cho người ta, làm đức là làm đức của mình được sáng tỏ lên. Khi mình làm việc gì mà không nghĩ đến lợi cho mình thì là công. Khi mình làm việc gì cho mình để tăng trưởng đặc tính mà mình gọi là tình thương hay đặc tính có đạo đức, biết lễ phép, thì mình gọi là đức. Hai chữ công đức, một chữ thì đối ngoại, một chữ thì đối với chính mình. Một cái về việc làm, một cái về tính tình của mình.
Công là phần văn hóa quan trọng nhất của cảm kích, ví dụ một người làm cho mình một chuyện thì đối xử của mình sẽ ra sao. Sự đối xử của mình được gọi là cảm kích. Nhiều khi là mình cảm ơn, nhiều khi mình bắt tay hay mỉm cười. Nếu chỉ như vậy thôi thì văn hóa cảm kích trong Phật giáo chưa đầy đủ, vì như vậy chỉ là văn hóa cộng đồng mà thôi. Nhưng văn hóa đặc biệt của Phật giáo lại nói rằng: “Ngoài việc người ta làm tốt cho mình, mình còn phải nhìn thấy được tấm lòng của người ấy nữa.”
Thí dụ người mẹ nấu ăn cho các con. Các con cảm kích sự nấu nướng của mẹ, nhưng nếu chỉ nói: “Món ăn này mẹ nấu ngon quá”, thì vẫn chưa nói ra sự cảm kích theo Phật giáo. Vì vậy, mình có thể nói rằng: “Cám ơn mẹ đã săn sóc và nấu cho chúng con ăn”. Câu nói đã bày tỏ được sự cảm kích của mình về tình mẹ. Nếu mình chỉ khen các món ăn ngon tức là mình chỉ khen các món này nấu ngon mà không cảm kích tấm lòng của mẹ. Đôi khi sự cảm kích không cần nói nhiều, im lặng nhìn mẹ mỉm cười, hoặc tới ôm hôn mẹ; cử chỉ tế nhị nhưng cũng khiến cho mẹ cảm nhận rằng mình được cảm kích. Tự nhiên sự quan hệ giữa mình và mẹ sẽ cởi mở thêm. Sự cởi mở này là trọng tâm của đạo Phật, là làm sao mình sống với nhau trong cởi mở chớ không phải sống với nhau mà làm cho nhau mệt mỏi, nặng nề.
Sự khai mở đó là kết quả của sự cảm kích tấm lòng người mẹ. Đó là một công hạnh rất lớn vì khi mình bắt đầu có thể nhìn được tấm lòng của người khác thì chắc chắn mình sẽ cảm động được người ta. Khi mình cảm động được người ta thì mình có thể thay đổi được cái nhìn, sự suy nghĩ của họ. Khi mình thay đổi được sự suy nghĩ và cái nhìn của họ thì mình có thể thay đổi được cách họ làm việc, cách họ xử thế. Khi họ thay đổi cách làm việc, xử thế tức là họ thay đổi nghiệp của họ. Nói tóm lại khi mình làm cảm động người tức là mình chuyển nghiệp của người đó, một cách gián tiếp, vô hình mà thực sự sẽ xảy ra. Bởi vậy sự cảm kích là khả năng khiến mình nhận diện được cái hay, cái đẹp của người khác; và mình có thể dùng lời nói, hành động hay những cử chỉ vi tế khiến cho người ta cảm động.
Bây giờ mình trở về một chuyện quan trọng: đối tượng cảm kích là gì? Đối tượng cảm kích là cái người đó làm tốt cho mình và cách mình cảm kích là mình nói bằng lời, và đôi khi bằng cử chỉ. Đối tượng cảm kích không cần phải là một người mà có thể là vũ trụ xung quanh, thiên nhiên; có thể là những lời văn rất hay, những bài hát, điệu nhạc hoặc là nghệ thuật, một cành hoa đẹp mà người ta cắm, một vườn hoa được chăm sóc chu đáo, v. v.. Đối tượng thì nhiều lắm, nhưng mình cảm kích cái gì khi trực diện với những đối tượng đó.
Đề mục của cảm kích là cái gì? Là cái đẹp. Mình cảm kích cái đẹp, cái tốt, cái chân lý gọi là chân thiện mỹ, cảm kích cái nhìn phong phú mà người ta chia sẻ với mình, cảm kích thâm ý, nỗi lòng mà người ta biểu hiện ra trong vũ trụ. Lúc đầu mình cảm kích những việc người ta đối với mình, nhưng sau đó mình nhìn ra xung quanh, cảm kích những nét đẹp, tốt, hay, những điều huyền diệu xung quanh mình, nhiều khi thật vô cùng nhỏ. Thí dụ, các bác đi ngoài đường, thấy con đường mình đang đi rất sạch sẽ, sự cảm kích đầu tiên của mình là “một khung cảnh thiên nhiên quá đẹp”, sau đó mình cảm kích người nào đó đã bỏ công sức ra quét sạch con đường này. Thưa bác, khi thầy ở bên Nhật, một buổi sáng nọ, khoảng 5 giờ sáng, thầy đi thơ thẩn ra ngoài, thấy có hai ba người đàn bà đứng cách nhau một khoảng, đang quét lá. Khoảng 15 phút sau thầy quay trở lại khách sạn, những người phụ nữ đó không còn đó nữa, có lẽ đã trở vô trong nhà; nhưng nhìn ra vỉa hè thì thấy vô cùng sạch sẽ. Té ra là họ dậy sớm quét lá rồi trở vô nhà. Nếu ai đi trên đường này vào khoảng 9, 10 giờ, sẽ thấy con đường sạch vô cùng, nhưng không biết rằng đã có người dậy sớm quét dọn. Biết được điều này, thầy vô cùng cảm kích, nhìn con đường sạch sẽ lòng mình cũng nhẹ nhàng. Mình cảm kích cái đẹp nhưng mình cũng cảm kích các vị hộ chủ, tức là những người phụ nữ mà thầy thấy đã bỏ tâm ra quét. Khi quét họ đâu cần mình cám ơn, nhưng thực sự trong lòng mình rất cảm kích vì họ đã làm đẹp. Nhờ tăng trưởng cái đẹp mà bây giờ mình cảm động vì nét đẹp đó và thích sự sạch sẽ. Vì thích sạch sẽ nên mình sẽ sửa đổi cuộc đời, làm cho căn nhà mình sạch sẽ, sự suy nghĩ của mình sạch sẽ và nhứt là lời nói mình sạch sẽ. Hóa ra những người đàn bà kia đã thay đổi hành động của thầy. Vô tình họ đã thay đổi cái nghiệp của thầy; mình không dám bừa bãi nữa vì nhớ tới hình ảnh này.

Năm giai đoạn khi ngồi thiền

(Kỳ 08) 

(VienDongDaily.Com – 07/07/2011)

Bài giảng của thầy Hằng Trường trên radio Khai Tâm, do Xuân Dung ghi lại


Năm giai đoạn của tâm thức mà mình sẽ trải qua trong lúc tu thiền cũng như trong lúc sống là năm giai đoạn có tên như sau:
(1) Hỗn loạn hay Confused state
(2) Bình thần hay Balanced
(3) Hài hòa hay Harmony
(4) Hợp nhất, nhất nguyên hay Unity
(5) Bất nhị hay None-duality

Năm giai đoạn này chỉ có thể đạt được khi mình luyện tâm. Nếu mình biết chỗ bắt đầu luyện tâm thì mình sẽ rất thành công. Bắt đầu luyện tâm có phải là bắt đầu luyện Chỉ và Quán không? Thưa không. Bắt đầu luyện tâm là mình làm sao cho tâm nhẹ, buông đi những gánh nặng. Sự buông bỏ gánh nặng của nội tâm là con đường điều tâm số một. Sau khi buông bỏ những chuyện chấp trước bên ngoài để tâm mình được nhẹ nhàng, mình mới đi tới giai đoạn tu luyện Chỉ và Quán. Sau khi đã tu luyện được Chỉ và Quán, mình sẽ tới một giai đoạn quan trọng hơn nữa của tâm thức, được gọi là đạt tới sự hài hòa mà thống nhất. Cuối cùng thì tới giai đoạn bất nhị.
Thưa các bác, tiến trình điều tâm hay tiến trình nuôi dưỡng để phát triển cái tâm này là một nghệ thuật rất cao. Tu thiền cần có những phương pháp quan trọng và chính xác. Mình chớ nên nghĩ rằng thiền là một việc ghê gớm, có thể dẫn đến tẩu hỏa nhập ma; trái lại thiền là một phương pháp rất có lớp lang, thứ tự và mình cần có sự hướng dẫn. Đồng thời cũng nên bỏ ý nghĩ và sự ham muốn là mình sẽ giác ngộ và hơn người khác, phải là người đi cứu người khác. Những động cơ này khiến con đường thiền của mình không còn chính xác nữa, vì đã đem tâm thức phàm phu, thế tục vào con đường tâm linh, và hiểu lầm rằng tâm linh cũng là con đường thế tục, cũng phải tranh giành, bon chen, phải đứng hạng nhứt, phải giỏi, phải ngồi cho cao. Không phải vậy. Thiền là một phương cách hoàn toàn nhẹ nhàng vì là sự khai mở của tâm, một sự phát huy ánh sáng của từ tâm chớ không phải là một phương pháp khiến mình tranh được chức vụ gì và giác ngộ tới cỡ nào. Đó là về khía cạnh luyện tâm.
Tóm lại những giai đoạn ngồi thiền trên đây – không phải giai đoạn sống thiền, mà chỉ là giai đoạn ngồi thiền thôi – cũng có chi tiết, kỹ thuật lắm. Hy vọng mình sẽ bắt đầu phát tâm, học thiền, để phát huy mức độ chuyên chú cũng như là phát huy mức độ khai mở tự giác (self-awareness) nội tâm.

5. Cảm kích – Appreciation
Chữ Appreciation người Mỹ hay người ngoại quốc dùng thường xuyên lắm, cũng như chữ Thank you, Merci, Merci beaucoup. Gần đây cho nhiều người cho biết rằng:
“Thưa thầy, có những chỗ mình làm việc với họ thật lâu mà họ không thèm nói một tiếng OK hay Thank you. Nhưng sang đất Mỹ thì thấy rằng khi mình làm việc gì cho ai, họ đều nói Thank You cả.”
Có nhiều nền văn hóa, người ta không nói ra tiếng cám ơn bằng miệng mà chỉ nói bằng tấm lòng, sự cảm kích biểu lộ bằng tấm lòng. Cũng có nền văn hóa cho rằng không cần phải nói ra làm chi, nó đã sẵn như vậy rồi. Thí dụ người con cầm bình trà rót nước cho cha mẹ. Cha mẹ sẽ không nói tiếng cám ơn con vì nghĩ rằng đây là chuyện bình thường. Còn người Mỹ hay người ngoại quốc, các bác thấy, con cái pha trà cho cha mẹ, cha mẹ cũng nói “cám ơn”, nhiều khi họ còn nói “please” (xin làm ơn). Nhưng trong văn hóa Việt Nam mình không nói “cám ơn”, cũng ít khi nói “Xin làm ơn”. Ta không thể nói là văn hóa này sai hay đúng mà chỉ là tập quán của mỗi nền văn hóa mà thôi.
Sự cảm kích ở đây ra ngoài vấn đề xã giao mà chú ý đến cái tâm. Sự cảm kích này tiềm tàng trong mỗi nền văn hóa, dù sự thể hiện của mỗi nền văn hóa có khác nhau: có văn hóa thể hiện bằng lời nói rõ ràng, có văn hóa không biểu hiện bằng lời nói mà chỉ để trong lòng mà thôi. Còn những văn hóa khác thì biểu hiện bằng hành động, cử chỉ, qua cái gật đầu, v.v..
Văn hóa cảm kích trong Phật giáo như thế nào? Trong Phật giáo, văn hóa cảm kích là một văn hóa rất quý báu. Đức Phật dạy rằng: “Nếu cảm kích ân đức của người tốt với mình, mình sẽ học được cái ân đức đó và trở thành người đó”. Đức Phật thường dùng chữ “làm công đức”: làm công là làm cho người ta, làm đức là làm đức của mình được sáng tỏ lên. Khi mình làm việc gì mà không nghĩ đến lợi cho mình thì là công. Khi mình làm việc gì cho mình để tăng trưởng đặc tính mà mình gọi là tình thương hay đặc tính có đạo đức, biết lễ phép, thì mình gọi là đức. Hai chữ công đức, một chữ thì đối ngoại, một chữ thì đối với chính mình. Một cái về việc làm, một cái về tính tình của mình.
Công là phần văn hóa quan trọng nhất của cảm kích, ví dụ một người làm cho mình một chuyện thì đối xử của mình sẽ ra sao. Sự đối xử của mình được gọi là cảm kích. Nhiều khi là mình cảm ơn, nhiều khi mình bắt tay hay mỉm cười. Nếu chỉ như vậy thôi thì văn hóa cảm kích trong Phật giáo chưa đầy đủ, vì như vậy chỉ là văn hóa cộng đồng mà thôi. Nhưng văn hóa đặc biệt của Phật giáo lại nói rằng: “Ngoài việc người ta làm tốt cho mình, mình còn phải nhìn thấy được tấm lòng của người ấy nữa.”
Thí dụ người mẹ nấu ăn cho các con. Các con cảm kích sự nấu nướng của mẹ, nhưng nếu chỉ nói: “Món ăn này mẹ nấu ngon quá”, thì vẫn chưa nói ra sự cảm kích theo Phật giáo. Vì vậy, mình có thể nói rằng: “Cám ơn mẹ đã săn sóc và nấu cho chúng con ăn”. Câu nói đã bày tỏ được sự cảm kích của mình về tình mẹ. Nếu mình chỉ khen các món ăn ngon tức là mình chỉ khen các món này nấu ngon mà không cảm kích tấm lòng của mẹ. Đôi khi sự cảm kích không cần nói nhiều, im lặng nhìn mẹ mỉm cười, hoặc tới ôm hôn mẹ; cử chỉ tế nhị nhưng cũng khiến cho mẹ cảm nhận rằng mình được cảm kích. Tự nhiên sự quan hệ giữa mình và mẹ sẽ cởi mở thêm. Sự cởi mở này là trọng tâm của đạo Phật, là làm sao mình sống với nhau trong cởi mở chớ không phải sống với nhau mà làm cho nhau mệt mỏi, nặng nề.
Sự khai mở đó là kết quả của sự cảm kích tấm lòng người mẹ. Đó là một công hạnh rất lớn vì khi mình bắt đầu có thể nhìn được tấm lòng của người khác thì chắc chắn mình sẽ cảm động được người ta. Khi mình cảm động được người ta thì mình có thể thay đổi được cái nhìn, sự suy nghĩ của họ. Khi mình thay đổi được sự suy nghĩ và cái nhìn của họ thì mình có thể thay đổi được cách họ làm việc, cách họ xử thế. Khi họ thay đổi cách làm việc, xử thế tức là họ thay đổi nghiệp của họ. Nói tóm lại khi mình làm cảm động người tức là mình chuyển nghiệp của người đó, một cách gián tiếp, vô hình mà thực sự sẽ xảy ra. Bởi vậy sự cảm kích là khả năng khiến mình nhận diện được cái hay, cái đẹp của người khác; và mình có thể dùng lời nói, hành động hay những cử chỉ vi tế khiến cho người ta cảm động.
Bây giờ mình trở về một chuyện quan trọng: đối tượng cảm kích là gì? Đối tượng cảm kích là cái người đó làm tốt cho mình và cách mình cảm kích là mình nói bằng lời, và đôi khi bằng cử chỉ. Đối tượng cảm kích không cần phải là một người mà có thể là vũ trụ xung quanh, thiên nhiên; có thể là những lời văn rất hay, những bài hát, điệu nhạc hoặc là nghệ thuật, một cành hoa đẹp mà người ta cắm, một vườn hoa được chăm sóc chu đáo, v. v.. Đối tượng thì nhiều lắm, nhưng mình cảm kích cái gì khi trực diện với những đối tượng đó.
Đề mục của cảm kích là cái gì? Là cái đẹp. Mình cảm kích cái đẹp, cái tốt, cái chân lý gọi là chân thiện mỹ, cảm kích cái nhìn phong phú mà người ta chia sẻ với mình, cảm kích thâm ý, nỗi lòng mà người ta biểu hiện ra trong vũ trụ. Lúc đầu mình cảm kích những việc người ta đối với mình, nhưng sau đó mình nhìn ra xung quanh, cảm kích những nét đẹp, tốt, hay, những điều huyền diệu xung quanh mình, nhiều khi thật vô cùng nhỏ. Thí dụ, các bác đi ngoài đường, thấy con đường mình đang đi rất sạch sẽ, sự cảm kích đầu tiên của mình là “một khung cảnh thiên nhiên quá đẹp”, sau đó mình cảm kích người nào đó đã bỏ công sức ra quét sạch con đường này. Thưa bác, khi thầy ở bên Nhật, một buổi sáng nọ, khoảng 5 giờ sáng, thầy đi thơ thẩn ra ngoài, thấy có hai ba người đàn bà đứng cách nhau một khoảng, đang quét lá. Khoảng 15 phút sau thầy quay trở lại khách sạn, những người phụ nữ đó không còn đó nữa, có lẽ đã trở vô trong nhà; nhưng nhìn ra vỉa hè thì thấy vô cùng sạch sẽ. Té ra là họ dậy sớm quét lá rồi trở vô nhà. Nếu ai đi trên đường này vào khoảng 9, 10 giờ, sẽ thấy con đường sạch vô cùng, nhưng không biết rằng đã có người dậy sớm quét dọn. Biết được điều này, thầy vô cùng cảm kích, nhìn con đường sạch sẽ lòng mình cũng nhẹ nhàng. Mình cảm kích cái đẹp nhưng mình cũng cảm kích các vị hộ chủ, tức là những người phụ nữ mà thầy thấy đã bỏ tâm ra quét. Khi quét họ đâu cần mình cám ơn, nhưng thực sự trong lòng mình rất cảm kích vì họ đã làm đẹp. Nhờ tăng trưởng cái đẹp mà bây giờ mình cảm động vì nét đẹp đó và thích sự sạch sẽ. Vì thích sạch sẽ nên mình sẽ sửa đổi cuộc đời, làm cho căn nhà mình sạch sẽ, sự suy nghĩ của mình sạch sẽ và nhứt là lời nói mình sạch sẽ. Hóa ra những người đàn bà kia đã thay đổi hành động của thầy. Vô tình họ đã thay đổi cái nghiệp của thầy; mình không dám bừa bãi nữa vì nhớ tới hình ảnh này.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s