Tự học 1


 

I/ NHỮNG ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT

Theo định nghĩa của giới xã hội học, văn hóa bao gồm những qui ước, giá trị vật chất và tinh thần do con người sánh tạo ra và tích lũy trong quá trình tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên. Họat động khoa học dựa vào một số qui trình, qui ước đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận và lấy làm chuẩn, và do đó họat động khoa học tạo nên văn hóa khoa học. Chẳng hạn như trong khi làm thí nghiệm, tất cả các dữ liệu liên quan đến phương pháp, số liệu, hình ảnh, hay nói chung kết quả đều phải được ghi chép cẩn thận trong nhật ký thí nghiệm, và nếu cần phải có một đồng môn ký vào nhật ký. Tất cả các kết quả phải đựoc trình bày trong các buổi họp hàng tuần trước đồng nghiệp và được “soi mói” cẩn thận. Hay trong thực hành lâm sàng, bác sĩ phải trình bày những ca bệnh mình phụ trách trong buổi họp giao ban, để các đồng nghiệp khác bàn luận. Đó là một khía cạnh của văn hóa khoa học.

Giữa các quốc gia, văn hóa khoa học có thể khác nhau, nhưng theo tôi nó có những đặc điêm phổ quát mà đại đa số những người làm khoa học chấp nhận. Đó là:

+ TẠO THÓI QUEN ĐẶT CÂU HỎI: Đứng trước một sự kiên hay sự vật, người có văn hóa khoa học phải đặt câu hỏi tại sao, đào sâu suy nghĩ, và từ đó phát hiện vấn đề. Một khi đã phát hiện được vấn đề thì giải pháp để giải quyết cũng có thể theo sau. Chính vì thế mà có người nói trong khoa học, biết được câu hỏi, biết được vấn đề cũng có nghĩa là đã thành công 50% trong nghiên cứu. Nhưng ở nước ta, học sinh và sinh viên nào đặt vấn đề, tranh luận với thầy là bị phê bình ngay”con nít mới học vài ba chữ biết gì mà nói”, hay “không biết thì dựa cột mà nghe”, hay thậm chí “hỗn với thầy cô”. Trưởng thành trong một môi trường thứ bậc trong học thuật như thế, không ngạc nhiên khi sinh viên của chúng ta ra ngoài du học tuy rất khá trong việc trả bài, học trong khuôn khổ của sách giáo khoa nhưng khi học cao lên một bậc hay thóat ra ngoài sách vở thì họ rất lúng túng trong nghiên cứu khoa học, vì họ không biết cách đặt vấn đề.

+ “NÓI CÓ SÁCH, MÁCH CÓ CHỨNG”: Kiến thức mang tính kế thừa từ đời này sang đời khác. Thành ra, đối với người có tinh thần khoa học nghiêm túc, phát biểu có cơ sở và tài liệu tham khảo là điều đương nhiên. Mở bất cứ một sách giáo khoa hay thậm chí sách tham luận nào ở các nước Tây phương, chúng ta đều thấy phần tài liệu tham khảo dồi dào, ngay cả những thư từ trao đổi cá nhân cũng được trình bày cẩn thận với sự cho phép của đương sự. Cách làm việc này còn là một cách kế thừa di sản của người đi trước, và cũng là một cách ghi nhận công trạng của họ.

Nhưng rất tiếc là ở nước ta, văn hóa “nói có sách mách cố chứng này” vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. Có thể tìm thấy khá nhiều sách báo, bài báo khoa học ở Việt Nam không kèm theo một tài liệu tham khảo nào. Vì thế người đọc không biết tất cả những phát biểu trong sách, bài báo đó là phát kiến của tác giả hay mượn người khác mà không chịu ghi nhận.

Phải nói thêm rằng “nói có sách mách có chứng” có nghĩa là dựa vào tài liệu tham khảo gốc mà người phát biểu chưa từng đọc qua. Trong khá nhiều bài báo nghiên cứu khoa học ở nước ta, nhiều tác giả có xu hướng trích dẫn không căn cứ vào tài liệu gốc, hệ quả là nhiều phát biểu sai lầm.

+ TÔN TRỌNG SỰ THẬT KHÁCH QUAN: Làm khoa học là một hành tình đi tìm sự thật, khai hóa, truyền bá cái chúng ta gọi là “văn minh” và vì thế khoa học đặt sự thật trên hết và trước hết, trước tất cả những định kiến cá nhân. Nhưng sự thật này phải được thu thập có tổ chức, trực tiếp và khách quan; độc lập với lý thuyết và một cách tin cậy để làm nền tảng cho suy luận.

Trong họat động khoa học, tất cả những thất bại hay bất bình thường đều ???c khai thác, xem xét kỹ lưỡng để học hỏi thêm, để chúng ta phát hiện một cái mới thú vị khác. Thuốc giả được phát hiện một cách tình cờ vì phản ứng của thuốc không nằm trong “dự kiến” của các nhà nghiên cứu là một ví dụ.

+ LÀM VIỆC VÀ THỰC HÀNH DỰA VÀO BẰNG CHỨNG KHÁCH QUAN: Trong khoa học, niềm tin và kinh nghiệm cá nhân không thể xem là khách quan, và không thể làm nền tảng để hành động nếu những kinh nghiệm đó chưa qua thử nghiệm khách quan. Vì vậy chúng ta phải hành xử và phán xét dựa trên cơ sở dữ kiện nghiên cứu được thu thập một cách khách quan, chứ không dựa vào cảm tính hay theo phong trào hay áp lực.

Người Việt chúng ta thường quen phát biểu theo kinh nghiệm cá nhân, niềm tin, thậm chí theo cảm tính. Và có lẽ thói quen thực hành dựa vào bằng chứng khách quan đã làm thiệt thòi y học cổ truyền ở nước ta. Các thuật điều trị cổ truyền đã được thực hành qua hàng nghìn năm nhưng hiệu quả của chúng vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Chúng ta vẫn còn tin và hành xử theo tin đồn, theo truyền thuyết, thậm chí theo những niềm tin d
ị đoan.

+ HỆ THỐNG HÓA NHỮNG GÌ MÌNH BIẾT KHÔNG GIẤU GIẾM: Trong hoạt động khoa học, tất cả những giả thuyết, phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích, kết quả, và ý nghĩa của kết quả đều phải được hệ thống hóa trong một báo cáo khoa học, và công bố cho tòan thế giới biết. (Tất nhiên, đôi khi vì quyền lợi kinh tế và an ninh quốc gia, một số phương pháp không được công bố). Đặc điểm “văn hóa mở” này rất quan trọng và có lẽ là một yếu tố thúc đẩy phát triển khoa học ở các nước Tây phương. Đọc lại những nghiên cứu khoa học đơn giản từ thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tôi không khỏi thầm khen những ghi chép cẩn thận (có khi cẩn thận đến từng dấu chấm và con số lẻ) của những nhà nghiên cứu thời đó, không có giấu giếm gì cả. Nhưng ở nước ta,”văn hóa giấu nghề” hình như vẫn còn tồn tại trong không ít nhà khoa học. Những câu chuyện về giáo sư không truyền hết kỹ năng cho sinh viên và nghiên cứu sinh ở nước ta đôi khi nghe qua rất khôi hài, nhưng rất tiếc là lại thực tế.

+ DÂN CHỦ: Họat động khoa học là một môi trường dân chủ hiểu theo nghĩa tất cả các phát kiến của các nhà khoa học đều được đồng nghiệp bình duyệt nghiêm túc, và ngược lại, nhà khoa học cũng có cơ hội bình duyệt các nghên cứu của đồng nghiệp mình. Dân chủ trong khoa học còn có nghĩa là một mô thức nào đó được đa số cộng đồng khoa học chấp nhận, thì mô thức đó được xem là chuẩn để thực hành. Nhưng đến khi mô thức đó được chứng minh không còn thích hợp hay sai thì vẫn theo tinh thần dân chủ, mô thức đó sẽ được thay đổi bằng một mô thức mới.

Tinh thần dân chủ khoa học còn có nghĩa là các nhà khoa học lớn và có kinh nghiệm phải lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học trẻ chứ không có tình trạng “cây đa cây đề”, dùng uy tín cá nhân để lấn ép đồng nghiệp trẻ. Bất cứ ai từng đi dự các hội nghị khoa học ở các nước Tây phương đều thấy những nhà khoa học cao tuổi, những người mà chúng ta hay gọi là “cây đa cây đề” nghiêm chỉnh lắng nghe đồng nghiệp trẻ trình bày hay trả lời nghiêm chỉnh những phê phán, phản biện từ đồng nghiệp trẻ đáng tuổi học trò hay con cháu mình. Rất tiếc, ở nước ta hãy còn khá nhiều giáo sư lâu năm tự cho mình cái quyền lên lớp giới trẻ mà không chịu lắng nghe hay đánh giá thấp ý kiến của giới trẻ. Có nhiều vị thậm chí không chịu tiếp cận một cái nhìn mới về một vấn đề cũ và hệ quả là các trao đổi chỉ có một chiều, thiếu dân chủ, làm cho họat động khoa học mất hào hứng và tất nhiên là thiếu dân chủ

+ KẾ THỪA: Điều đẹp nhất của văn hóa khoa học không chỉ là dân chủ mà còn mang tính kế thừ. Không có kế thừa, khoa học sẽ là đi vào bế tắc rất nhanh.

+ TRÁCH NHỆM XÃ HỘI: Bản chất của khoa học là nhân đạo, và vì thế họat động khoa học còn phải có trách nhiệm với xã hội. Người làm khoa học, nói cho cùng, cũng là một thành viên trong xã hội, chứ không thể nào đứng ngoài hay đứng cao hơn xã hội. Nhà khoa học phải thông qua các cơ chế dân chủ dể truyền đạt tri thức, để có tiếng nói; không thông qua các cơ chế này là biệu hiện của sự kiêu ngạo. Mới đây khi Việt Nam có dự án xây một nhà máy điện hạt nhân, các nhà khoa học trong và ngoài nước cũng đã góp ý khá sôi nổi và đó chính là một cách thể hiện trách nhiệm xã hội của người làm khoa học. Trong thực tế không phải lúc nào các nhà khoa học cũng thành công trong việc thuyết phục chính quyền, nhưng ai cũng nhất trí là nhà khoa học phải có trách nhiệm với xã hội, và lên tiếng là một điều cần thiết.

Trong thập niên vừa qua, văn hóa khoa học đã trở thành một “đề án” được thảo luận rộng rãi ở các nước phương Tây, và được xem là một yếu tố trong phát triển kinh tế – xã hội. Vì thế, trong thời kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay, chúng ta rất cần phát triển một văn hóa khoa học như là một bộ phận của văn hóa dân tộc. Theo đó phải dứt khoát đọan tuyệt với hình thức chủ nghĩa (như hám bằng cấp, học hành tài tử hiện còn rất phổ biến trong người Việt) . Thay vào đó là trang bị VĂN HÓA TÌM TÒI cho mỗi học sinh khi họ cắp sách đến trường, trang bị cho họ tư duy ham hiểu biết, say mê sáng tạo, trọng phương pháp, sẵn sàng thích ứng với môi trường, dân chủ và có ý thức trách nhiệm với xã hội và đồng bào, biết áp dụng tinh thần khách quan và khoa học vào mọi phương diện của đời sống cá nhân và xã hội, phải biết hợp tác, và ở một số người, biết lãnh đạo theo những nguyên tắc dân chủ văn minh.

                           (Theo GS Nguyễn Văn Tuấn, Úc)

           ÓC TÒ MÒ

Loài người mới thực sự bắt đầu văn minh từ khi biết đi hai chân và hai tay nhờ vậy được rảnh rang để cầm vật này vật nọ lên mà ngắm nghía, nhận xét. Một phần lớn nhờ tính tò mò đó mà loài người hóa ra tôn nghiêm. Truy cầu tri thức, bất quá chỉ là một trò chơi; các nhà khoa học, các nhà phát minh đều là tìm tòi để chơi, chứ không phải vì lợi. Các y sĩ tài năng thường thích nghiên cứu vi trùng hơn là tìm hiểu bệnh nhân; các nhà thiên văn ráng ghi những vận chuyển của một ngôi sao cách ta cả trăm triệu cây số mà ngôi sao đó có ảnh hưởng gì trực tiếp đến nhân sinh đâu. Hầu hết các động vật – nhất là khi còn nhỏ – đều có bản năng du hí nhưng chỉ ở loài người tánh tò mò không vị lợi mới phát triển đến mức tuyệt cao.

 

ÓC MỘNG TƯỞNG

Tâm lý chung của con người là bất tri túc. Trong các loài động vật chỉ loài khỉ là thực rầu rĩ, nhất là giống tinh tinh. Đã có lần tôi thấy một con tinh tinh y hệt một triết gia; vì ưu uất với trầm tư có khác nhau gì đâu. Nhìn vẻ mặt của nó, tôi chắc rằng nó đang suy tư, nhất là không có vẻ trầm tư về triết lý vì lúc nào tôi thấy nó cũng thỏa mãn. Chỉ có con khỉ là như chán chường về đời sống. Vĩ đại thay con khỉ!

Có thể rằng sở dĩ triết lý phát sinh là do những cảm giác buồn bực, bất mãn. Dù sao một đặc tính của nhân loại là có cái hoài bão đeo đuổi một lý tưởng, hoài bão đó ưu uất, mơ
hồ và lặng lẽ. Sống trong một thế giới thực, loài người còn mơ tưởng tới một thế giới khác. Có lẽ người khác khỉ ở điểm: Khỉ chỉ biết chán ngán, buồn bực thôi, người còn biết tưởng tượng nữa. Chúng ta ai cũng đứng núi này trông núi nọ, cũng mơ mộng. Chú binh nhì mơ mộng được làm cai, thầy cai mơ mộng được làm đại úy, ông đại úy mộng được làm đại tá; ông đại tá nếu có khả năng một chút lại cho chức đại tá là tầm thường nhưng ông không nói rằng ông muốn thăng chức, ông dùng những lời thanh nhã hơn là chỉ muốn có cơ hội phục vụ quốc dân một cách hữu hiệu hơn thôi. Vì vậy mà thế giới gần như một cao lâu: Ai ăn món nào kêu món ấy, mà ai cũng muốn rằng món người khác kêu vẫn ngon hơn món mình kêu. Cho nên có câu “Văn mình vợ người”: Văn của mình bao giờ cũng hay hơn văn của người, còn vợ của mình bao giờ cũng xấu hơn, vụng hơn vợ của người. Không một ai thỏa mãn cả. Ai cũng muốn làm một người khác rồi lại muốn làm một người khác nữa.

Tánh chung đó có lẽ do sức tưởng tượng và khả năng mơ tưởng của ta. Người nào càng tưởng mạnh thì lại càng luôn luôn bất mãn. Cho nên một đúa trẻ tưởng tượng dồi dào thì luôn luôn khó tánh, thường buồn rầu, ưu uất như con khỉ chứ không sung sướng thỏa mãn như con bò cái. Nhất định là hạng người giàu tưởng tượng, nhiều hoài bão thường ly hôn nhiều hơn các hạng người khác. Khả năng hoài bão lý tưởng đó có hồi làm cho loài người lầm đường, nhưng nếu không có khả năng tưởng tượng thì không có sự tiến bộ.

Ai cũng có nguyện vọng, hoài bão. Điều đó rất quí vì các nguyện vọng, hoài bão thường được coi là cao thượng. Cá nhân hay quốc gia đều có mộng tưởng cả và ít hay nhiều đều họat động hợp với những mộng tưởng đó. Có người mơ mộng hơn những người khác cũng như trong một gia đình có trẻ đa cảm hơn những trẻ khác, và tôi thú thực là ưa những đứa đa cảm hơn. Thường thường những đứa đó hay ủ rũ hơn, nhưng không sao chúng cũng có những nỗi vui, những cảm xúc mạnh hơn. Chúng ta là những bộ máy thu được ý tưởng, cũng như máy thu thanh thu được âm nhạc. Máy nào hoàn toàn nhất thì thu được những âm ba tế nhị nhất mà những máy khác không thu được và âm nhạc nó thu được đó xa nhất, du dương nhất, quí nhất chỉ vì khó bắt được nhất.

Với lại những mơ tưởng hồi nhỏ không quá hư ảo như ta tưởng đâu. Có khi nó đeo đuổi ta cho tới lúc chết. Cho nên hồi nhỏ tôi thích Hans Christian Andersen viết truyện “Nữ nhân ngư” hoặc được làm Nữ nhân ngư  có những tư tưởng, nguyện vọng được sống lâu để ngoi lên mặt biển nhìn vũ tu còn gì thú bằng! Vậy trẻ con luôn luôn mơ mộng hoặc trong một trang trại hoặc ở bên bờ sông và mộng của nó thực cả đấy, không hư ảo đâu. Mà nhà bác học Thomas Edison cũng mơ mộng và do những giấc mộng của họ mà họ tạo được những lâu đài đẹp đẽ nhất cho chúng ta. Mỗi đứa trẻ khi đi ngủ đều mơ ước một cái gì và hy vọng sáng hôm sau tỉnh dậy, sẽ thấy ước mơ của mình được thực hiện. Những mộng đó là của riêng nó, nó không nói với ai cả. Có những cái mộng rõ ràng mạnh mẽ, bắt ta phải thực hiện cho được; còn những mộng khác kém rõ ràng thì lớn lên chúng ta quên đi.

(Theo Lâm Ngữ Đường, Nguyễn Hiến Lê dịch)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s