HORSERADISH PEROXIDASE


Enzyme horseradish peroxidase (HRP), tìm thấy trong cải horseradish, được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng hóa sinh chủ yếu là do khả năng khuếch đại 1 tín hiệu yếu và tăng khả năng phát hiện phân tử một chất.

Nếu đứng 1 mình,HRP enzyme không có mấy giá trị, sự có mặt của nó phải được xác định nhờ vào một cơ chất mà khi bị HRP ô xy hóa sử dụng Hydrogen peroxide (ô xy già) là tác nhân oxy hóa, sẽ sinh ra các thay đổi về tính chất mà có thể được phát hiện bởi các phương pháp đo quang phổ.

Có rất nhiều các cơ chất cho enzyme HRP đẵ được mô tả và thương mại hóa để khai thác các tính chất quý báu của HRP. Những cơ chất đo được chia ra làm một số loại đặc thù. HRP xúc túc cho sự chuyển đổi cơ chất tạo màu (ví dụ., TMB, DAB, ABTS) thành các sản phẩm có màu, và sản sinh ra ánh sáng khi phản ứng với các cơ chất quang hóa (ví dụ ECL)

*Ứng dụng:

HRP enzyme là một glycoprotein có khối lượng 44,173.9 Dalton với 6 bã (phần) lysine có thể liên kết lại để tạo nên một phân tử được đánh dấu. Nó tạo ra 1 dẫn xuất có màu, có tính quang phổ hoặc phát quang của phân tử được đánh dấu khi ủ với 1 cơ chất thích hợp. Cho phép nó được phát hiện và định lượng. HRP thường được sử dụng ở dạng liên kết (các phân tử được gắn kết gene hoặc hóa học) nhằm xác định sự hiện diện của một phân tử quan tâm. Ví dụ: một kháng thể gắn với HRP có thể được sử dụng để phát hiện một lượng nhỏ protein đặc hiệu trong Western Blot. Ở đây, kháng thể cung cấp tính đặc hiệu để sắp đặt protein quan tâm, và enzyme HRP, trong sự có mặt của cơ chất sẽ tạo ra một tín hiệu có thể phát hiện được.  HRP cũng rất phổ biến trong các kỹ thuật như ELISA và hóa sinh miễn dịch do bản chất đơn thế và sự dễ dàng trong việc tạo màu cho sản phẩm. Peroxidase, một enzyme xúc tác cho các phản ứng oxy hóa khử có chứa nhóm chức “heme” là một enzyme thương mại quan trọng xúc tác sự khử cắt hydrogen peroxide bằng một chất cho electron.

HRP rất lí tưởng cho nhiều khía cạnh áp dụng bởi vì nó nhỏ hơn và bền hơn, đỡ tốn kém hơn các chất thay thế khác như alkaline phosphate. Nó cũng có tỉ lệ luân chuyển cao cho phép sự tái tạo các tín hiệu mạnh trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.

Thêm vào đó, trong những năm gần đây, công nghệ chế tạo các neurons với enzyme HRP đã trở thành một công cụ chủ yếu. Trong lịch sử ngắn ngủi của mình, phương pháp này có thể được sử dụng nhiều hơn bởi các nhà sinh học nghiên cứu hệ thần kinh hơn là phương pháp nhuộm Golgi từ những năm 1870.

* Nâng cao sự quang hóa (ECL)

HRP xúc tác cho sự ô xy hóa luminol thành 3-aminophthalate qua một vài chất trung gian. Phản ứng này được kèm theo là sự phát xạ ánh sáng có cường độ thấp tại 428 nm. Tuy nhiên, nếu có mặt một vài chất hóa học nhất định, ánh sáng được phát xa ra được khuếch đại lên 1000 lần làm cho nó dễ phát hiện hơn và nâng cao độ nhạy của phản ứng. Sự cải thiện về phát xạ ánh sang này được gọi là Quang hóa nâng cao (ECL). Một vài chất tăng cường có thể được sử dụng, nhưng chất hiệu quả nhất là các phenols được biến đổi, đặc biệt là p-iodophenol. Cường độ ánh sáng là 1 thông số của số phân tử enzyme phản ứng vfa thêm vào đó là lượng lai. ECL đơn giản khi xây dựng và nhạy, có thể phát hiện khoảng 0.5 pg nucleic acid trong Southern blots và trong Northern blots. Phát hiện bởi các chất quang hóa có một vài điểm thuận lợi so với các cơ chất tạo màu. Độ nhạy gấp 10 đến 100 lần, và định lượng được ánh sáng phát xạ trên 1 dải động học rộng, trong khi đối với chất kết tủa có màu thì bị hạn chế hơn, thấp hơn khoảng 1 bậc về cường độ. Stripping filter sẽ dễ dàng hơn nhiều khi cơ chất quang hóa được sử dụng.

Dịch OsamaHiep

Nguồn: En.wikipedia.org

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s